Trang nhà

Phân mục của tế bào học _ Axit nuclêic (ADN & ARN)

Andromeda
T4, 07/12/2005 - 17:04
Axit nuclêic

Hai nhóm chất riêng biệt được xếp vào axit nuclêic lad ADN(axit đeoxiribonucleic)và ARN(axit ribonucleic)

***ADN:

Năm 1890,từ trong nhân của cac tế bào có ở trong mủ,Mise(Đức)đã phân tích và phát hiện phân tử ADN.Sau đó,năm 1924,bằng phương pháp hoá nhuộm,Fenlgen phát hiện được ADN trong thể nhiễm sắc của nhân tế bào.Về sau những năm 40 của thế kỷ 20,cấu trúc ADN đã được tìm thấy với các đơn vị cấu trúc là các nuclêotit.Các nucleotit này sắp xếp thành từng cặp.Đến năm 1953,Watson(Mỹ)và Crick(Anh)từ các nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng bằng các phương pháp lý,hoá đặc sắc đã đưa ra được cấu trúc phân tử chính xác của ADN.Họ xác nhận ADN có dạng chuỗi xoắn kép.

Về cấu trúc phân tử,ADN là một cao phân tử(polime),gồm nhiều đơn phân(monome)gọi là nucleotit.Mỗi nucleotit gồm 3 thành phần:
-Đường pentozơ gọi là đêoxiribozơ(C5H10O4)
-Nhóm photphat(axit phophoric)
-Bazơ nitơ.

Nhóm photphat gắn cacbon 5' của đường đêoxiribozơ,còn bazơ nitơ gắn vào cacbon 1'.

Có 4 loại bazơ nitơ:loại Adenin(A) và Guanin(G)là các dẫn xuất của bazơ purin;còn dẫn xuất của bazơ pyrimidin thì có Timin(T) và Xytozin(X).

Các nucleotit nối với nhau thành chuỗi polinucleotit qua nhóm photphat và đường pentozơ.Mỗi gốc axit photphoric liên kết với nguyên tử cácbon 5' của một gốc đường và với nguyên tử cacbon 3' của một gốc đường khác qua các liên kết photphođieste.

Hai chuỗi polinucleotit xoắn lại với nhau thành chuỗi xoắn kép,trong đó bazơ nitơ chuỗi này liên kết với chuỗi kia bằng liên kết hiđro theo nguyên tắc bổ sung.

Rõ ràng là ADN có cấu tạo đa phân,do nhiều đơn phân hợp lại,có cấu tạo nhiều bậc.Sự đa dạng của sinh giới bắt nguồn từ đây.Ở từng loài riêng có trình tự sắp xếp các nucleotit riêng trong phân tử ADN của loài,và cũng có cả đặc thù cùng số lượng nucleotit riêng.Trong một loài virus đơn giản nhất cũng có đến 5000 nucleotit,còn trong 46 NST người thì có đến 5000 tỉ nucleotit.

Trong 2 chuỗi polinucleotit,đường pentozơ và photphat đều giống nhau,riêng 4 bazơ nitơ có liên kết khác nhau.

Thuỷ phân ADN,E.Chargaff phát hiện thấy ở bất kỳ phân tử ADN nào cũng đều có tổng số bazơ purin bằng tổng số bazơ pirimidin(Định luật E.Chargaff).Có nghĩa là:
A=T,tức A/T=1
X=G,tức X/G=1
Định luật cơ bản trên đã làm cơ sở cho cấu trúc phân tử ADN theo nguyên tắc bổ sung.
Tỉ số (A+T)/(G+X) khác 1 trong phần lớn trường hợp rất khác nhau trong các loại ADN của các loài sinh vật,nhưng lại đặc trưng cho từng loài;ở mỗi loài,tỉ số này là một hằng số riêng.
Ví dụ:ở người,tỉ số (A+T)/(G+X) =1,52;ở cừu là 1,36;gà mái là 1,38;rùa là 1,31...Tỉ số này gọi là tỉ số bazơ.
Mô hình Watson và Crick cho thấy mỗi vòng của chuỗi xoắn kép gồm có 10 cặp bazơ có chiều dài là 34 Ao vì khoảng cách giữa 2 cặp bazơ liền nhau là 3.4 Ao.Định luật E.Chargaff cho thấy rõ đặc điểm quan trọng nhất của mô hình là sự liên kết đôi đặc thù giữa các bazơ.Các bazơ liên kết nhau theo nguyên tắc bổ sung,từng cặp một phải gồm một bazơ có kích thuớc lớn(A,T)liên kết với một bazơ có kích thước nhỏ(G,X)và ngược lại.Kết quả là hai sợi đơn trong chuỗi xoắn kép bổ sung cho nhau.

Nguyên lý bổ sung trên có tầm quan trọng đặc biệt với hiện tượng di truyền,bảo đảm cấu trúc đặc trưng của axit nucleotit,biểu hiện không chỉ trong cấu trúc của ADN mà còn trong cơ chế tự sao chép ADN,cơ chế phiên mã,cơ chế dịch mã.

Một đặc tính quan trọng khác của mô hình cấu trúc ADN là tính định hương ngược chiều của hai sợi đơn trong phân tử ADN và đặc biệt nữa là liên kết 3'-5' photphatđieste,dẫn tới tính chất song song ngược chiều nhau của hai sợi đơn,từ 3'-5' và ngược lại 5'-3'.Nói cách khác,đầu 3' của sợi này nằm ở phía đầu 5' của sợi kia và ngược lại

Các ADN khác nhau thì cũng khác nhau về chiều xoắn,khoảng cách và độ nghiêng của các cặp bazơ.

Dạng ADN mà Watson và Crick phát hiện thuộc dạng B,khá phổ biến,xoắn phải,các cặp bazơ nằm thẳng góc với trục xoắn.Dạng Z có chiều xoắn trái,mỗi vòng xoắn có 12 cặp bazơ.Dạng A,C,D đều có dạng khác so với dạng B về số lượng cặp bazơ ở mỗi vòng xoắn và độ nghiêng.

Bài bình luận

Andromeda
T6, 09/12/2005 - 16:59
  • ***ARN

    Về mặt cấu trúc hoá học,ARN cũng là một chất cao phân tử(polime),cũng gồm nhiều nucleotit gắn với nhau như trong một sợi đơn của phân tử ADN,và hình thành một chuỗi đơn polinucleotit.
    So sánh với ADN thì ARN khác với 3 đặc điểm:
    -Một là,đường pentozơ của ARN là đường ribozơ(C5H10O5),không còn là đường đeooxiribozơ như trong ADN.
    -Hai là,trong ARN có 1 trong 4 bazơ nitơ khác với ADN.Đó là Uraxin,ở ADN là Timin.
    -Ba là,ARN chỉ có một sợi đơn polinucleotit trong khi ADN là chuỗi xoắn kép gồm hai sợi đơn.
    Tuỳ theo chức năng di truyền của các phân tử ARN mà người ta chia ARN thành các loại khác nhau.

    Chỉ ngoại lệ là trong virus,ARN là bộ gen(genom)của chúng.ARN trong virus vì thế mà có chức năng duy trì và truyền đạt thông tin di truyền tương ứng cho thế hệ sau.ARN của virus thường chỉ là một sợi.Riêng một số virus đặc biệt như rêtrôvirus thì ARN có hai sợi.
Andromeda
T6, 09/12/2005 - 17:02
  • Các loại ARN còn lại được phân biệt nhau thông qua chức năng tham gia trong qua trình sinh tổng hợp protein.Chúng có 3 loại,được tổng hợp thông qua phiên mã ADN.

    a1.ARN thông tin (m-ARN,i-ARN)

    Cũng còn được gọi là ARN trung gian,được tổng hợp trong nhân của tế bào,trên khuôn mẫu của ADN,làm nhiệm vụ trung gian truyền thông tin di truyền từ ADN trong nhân sang protein được tổng hợp tại ribôxôm trong tế bào chất.Tổng số lượng m-ARN trong tế bào rất ít,vài phần trăm ARN tổng số.
    Số lượng nuclêotit trong m-ARN rất biến đổi,từ 150 đến hàng ngàn nucleotit.Thời gian sống(tồn tại)trong tế bào rất ngắn.

    a2.ARN vận chuyển (t-ARN,s-ARN)

    Được gọi là ARN hoà tan,chiếm từ 10-20% tổng số ARN trong tế bào.Sợi của nó chứa khoảng 75-85% ribonucleotit,khối lượng phân tử 260000 dvC.

    ARN vận chuyển có cấu trúc đặc thù:mạch đơn ribonucleotit quấn trở lại làm thành ba kiểu thuỳ như lá dâu.Trong 3 thuỳ đó thì:
    -Một thuỳ mang đối mã anticodon,sẽ khớp bổ sung với mã sao(codon) trên m-ARN.
    -Một thuỳ tác dụng với ribôxôm.
    -Một thuỳ có chức năng nhận diện enzym gắn axit amin tương ứng vào ARN-vận chuyển.
    Một số ARN-vận chuyển có thuỳ thứ tư.
    60-70% cấu trúc ARN vận chuyển có dạng xoắn kép,tạo nên không gian 3 chiều.
    Đầu mút có chức năng mang axit amin của tất cả các loại ARN vận chuyển đều có kết thúc là AXX và đầu mút phía còn lại là G.

    Chức năng của ARN vận chuyển là kết hợp với axit amin để tổng hợp protein tại ribôxôm.Có đến 50-60 loại ARN vận chuyển khác nhau.Mỗi loại chỉ kết hợp với một trong 20 axit amin,và đưa lần lượt các axit amin vào ribôxôm.ARN-vận chuyển có 2 chức năng trong sự tham gia tổng hợp protein:[/b]chức năng tiếp nhận và chức năng liên kết.

    Chức năng tiếp nhận của ARN-vận chuyển thể hiện ở sự nhận diện,tiếp nhận axit amin tương ứng đã được họat hoá.Về chức năng liên kết,axit amin được liên kết với ARN vận chuyển ở đầu mút và cứ mỗi phân tử ARN vận chuyển sẽ kéo vào axit amin một ribôxôm tương ứng liên kết với nó,sự liên kết xảy ra nhờ tác động của một enzym hoạt hoá riêng biệt đối với axit amin.

    a3.ARN-ribôxôm (r-ARN):

    Loại này chiếm phần lớn ARN trong tế bào,80% ARN tổng hợp.

    Ribôxôm có dạng hạt bé,quan sát được sưới kính hiển vi điện tử.Có nhiều ribôxôm trong các tế bào đang hoạt động tổng hợp prrotein mạnh.Kích thước thay đổi,khoảng 250 Ao ở sinh vật nhân chuẩn.Ribôxôm có bản chất hoá học là nucleoprotêin.

    Vai trò của ARN trong di truyền là lập nên mối liên quan giữa gen và protein trong suốt quá trình tổng hợp protein(thực chất là mối liên hệ ADN và quá trình tổng hợp protein).
Andromeda
T6, 09/12/2005 - 17:04
  • a4.ARN là cầu nối giữa ADN và protein:

    Các thực nghiệm đã chứng minh tính cầu nối của ARN trong mối liên hệ với ADN và sự tổng hợp protein.

    Đầu tiên người ta xác nhận ADN được phát hiện ở trong nhân tế bào,còn ARN được tìm thấy ở tế bào chất,nơi xảy ra sự tổng hợp tất cả các protein.Trong phôi đang phát triển của nhiều loài chứa rất nhiều ARN.Những tế bào tổng hợp nhiều protein thì có nhiều ribôxôm.Ở Escherichia Coli đang kì phát triển có tới 15000 ribôxôm,khối lượng của tổng lượng ribôxôm đó bằng 1/2 khối lượng tế bào,số lượng ARN-ribôxôm chiếm đến 2/3 tổng số ARN.

    Thực khuẩn thể mang ADN xâm nhập vàp vi khuẩn,thì ARN của vi khuẩn được tổng hợp từ ADN của virus trước lúc protein của virus được bắt đầu tổng hợp.

    .Enzym:

    Nhiều chất được sử dụng nhanh chóng bởi tế bào sống nhưng lại bị trơ một cách kỳ lạ khi ở ngoài tế bào cơ thể.
    Trong công nghệ hoá học,không phải công nghệ sinh học,muốn phân huỷ glucozơ phải nhờ tác động của nhiệt độ cao,axit mạnh hay kiềm đặc...
    Trong tế bào,chất nguyên sinh không thể sử dụng các tác nhân nhiệt cao,axit mạnh hay kiềm đặc như trên để phân huỷ glucozơ,mà thực hiện nhờ tác nhân đặc biệt gọi là enzym.Enzym là chất xúc tác phản ứng sinh học.

    Chất xúc tác tham gia điều khiển tốc độ các phản ứng mà không bị tiêu biến mất sau khi phản ứng kết thúc.Vì thế nó có thể được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần,và cũng vì thế mà một lượng nhỏ enzym có thể xúc tác phản ứng cho một lượng rất lớn chất nền.

    Tính chất diệu kỳ của enzym là có khả năng xúc tác kì lạ.Một phân tử enzym catalaza có thể phân giải 5000000 phân tử H2O2 trong một giây ở điều kiện OoC.Trong lúc đó nếu dùng một nguyên tử sắt để xúc tác thì phải mất 300 năm mới phân giải xong.Chứng tỏ enzym có hoạt tính xúc tác rất cao.

    Các enzym khác nhau về tính chuyên hoá,nghĩa là các loại khác nhau có tác dụng xúc tác trên các chất nền phản ứng khác nhau.

    Có loại có tính chuyên hoá tuyệt đối.Enzym ureaza chỉ xúc tác quá trình phân huỷ urê tổng hợp thành khí amoniac và khí cacbonic,không xúc tác cho một phản ứng nào khác ngoài urê.Các enzym phân giải saccarozơ,mantozơ,lactozơ cũng đặc biệt tương ứng.

    Các enzym khác có tính chuyên hóa tương đối,chỉ có tác dụng xúc tác lên một số chất họ hàng gần nhau.Peroxidaza phân giải được một số peroxit khác nhau trong đó có H2O2.

    Cũng còn có các enzym có tính chuyên hoá riêng như chỉ phân giải các chất nền có các kiểu liên kết thuộc kiểu nhất định.Ví dụ:enzym pilaza tuyến tuỵ chỉ phân giải este giữa glixerin và axit béo trong các lipit khác nhau.

    Enzym kiểm tra cả hai chiều thuận nghịch của phản ứng mà không quyết định chiều hướng của phản ứng.Chúng chỉ làm tăng tốc độ cho phản ứng đạt đến mức cân bằng.Trong trường hợp phản ứng theo chiều thuận có toả năng lượng,nếu muốn phản ứng xảy ra theo chiều ngược lại thì phải cung cấp một năng lượng tương ứng.

    Các enzym thường hoạt động phối hợp với nhau theo một chuỗi liên tục,trong đó sản phẩm của phản ứng trước là chất nền cho phản ứng sau.Tế bào cũng như một nhà máy gồm có nhiều phân xưởng chứa nhiều enzym khác nhau,mà mỗi enzym thực hiện một chặng của quá trình liên tục.ví dụ:quá trình từ phân tử glucozơ biến thành axit lactic trong tế bào thực vật,động vật cũng như tế bào vitamin khuẩn có đến 11 phân tử enzym khác nhau hoạt động nối tiếp nhau liên tục.

    Cấu tạo của enzym bao gồm hai tiểu phần:apôenzym và coenzym
    Apôenzym thường là protein.
    Coenzym gọi là nhóm hoạt động bao gồm phân tử hũu cơ bé thường chứa photphat.Tất cả các vitamin đóng vai trò chức năng như là coenzym của enzym ở trong tế bào.Một enzym có đủ hai tiểu phần mới có chức năng xúc tác.
    Có loại enzym,coenzym của nó phải phối hợp với một ion kim loại nhất định mới hoạt động được.Đa số các ion đó thuộc ion của các nguyên tố vi lượng(Cu,Co,Zn,Mn,Mo...).Chúng giữ chức năng chính là kích thích enzym.Các enzym tuỳ thuộc vai trò của mình định vị trong các tổ chức bào quan tương ứng.

    Nhà hoá học Emil Fischer(Đức) đưa ra giả thuyết enzym và cơ chất phản ứng như là chìa khoá và ổ khoá.Cũng có quan niệm cho rằng trong khi xúc tác phản ứng,enzym liên kết với chất nền tạo ra chất trung gian là enzym-chất nền.Về sau chất trung gian này lại phân giải cho enzym như ban đầu và sản phẩm của phản ứng.Quan niệm đó được L.Michaelis toán hoá học công thức hoá học khoảng cách đây nửa thế kỷ.

    David Keilin ở ĐH Tổng hợp Cambridge và E.Chance ở ĐH Tổng hợp Pennsylvania đã tìm được dẫn liệu thực tế xác minh cho quan niệm trên.Họ lấy enzym trong củ cải đen màu nâu trộn với peroxihidro thì hình thành phức chất trung gian:enzym-chất nền màu lục.Sau đó phức chất biến thành màu đỏ nhạt,enzym hình thành trở lại màu nâu ban đầu và các sản phẩm phân giải của peroxihiđro.Phần của enzym tương tác được chất nền gọi là trung tâm họat động của enzym.

    Enzym vì nó như là prrotein nên chịu ảnh hưởng lớn nhiệt độ,độ pH của các nhân tố.Ngoài ra,nồng độ enzym,nồng độ chất nền và nhân tố phụ thuộc đều có ảnh hưởng tới tốc độ phản ứng của enzym.Các chất làm ngộ độc enzym là xianua,axit iodoaxetic,fluorua,levizit...Một trong các enzym hô hấp là xitôcrôm oxidaza nhạy cảm với chất độc xianua(axit xyanhyđric và muối của nó).Bò chỉ ăn vài lá sắn xanh chứa nhiều axit xydanhiđric là bị ngộ độc hô hấp và chết ngay.
Andromeda
T6, 09/12/2005 - 17:10
  • Vitamin:

    Vitamin là những hợp chất hữu cơ tương đối đơn giản;tuy không phải là nguồn cung cấp năng lượng nhưng có vai trò rất to lớn trong việc điều hoà hoạt động trao đổi chất và năng lượng của tế bào,mô,cơ quan và cơ thể.Vitamin không được tổng hợp trong tế bào động vật,mà được tổng hợp trong tế bào thực vật,trong các vi sinh vật.Các tế bào của động vật muốn hoạt động bình thường phải được cung cấp vitamin,mặc dù chỉ cần một lượng rất ít.Rất nhiều nghiên cứu xác nhận vitamin cũng là những nhân tố có mặt bắt buộc trong các enzym(coenzym).

    Vitamin trong tế bào chia làm hai nhóm cơ bản dựa vào tính hoà tan trong các loại dung môi khác nhau:một loại vitamin tan trong nước (gồm vitamin C và các vitamin Cool và loại thứ hai tan trong mỡ (gồm vitamin A,D,E,K)

    a1.Các vitamin tan trong nước:

    +Vitamin C (axit L-Ascobic):

    Tính chất của vitamin C là tan trong nước,dễ bị oxi hoá.Khi đun nóng thì bị phân huỷ ở khoảng 40oC.Khối lượng phân tử là 176,1 dv.C

    Có mặt trong nhiều loại quả,các loại củ như củ cải,khoai tây,hành.Nó là thành phần quan trọng của các phản ứng oxi hoá khử.Thiếu vitamin C cơ thể người yếu toàn thể,làm chảy máu ở lợi,dưới da,viêm khớp xương.

    +Vitamin nhóm B có nhiều loại:

    Vitamin B1 (Tiamin):tan trong nước,không chịu nhiệt độ cao,khối lượng phân tử là 337,3 đv.C.

    Có mặt trong nhiều cây xanh,trong cám gạo,khoai tây,men bia,cà rốt.Nó là coenzym của enzym cacboxilaza,tham gia điều hoà sự trao đổi gluxit.Thiếu vitamin B1,người ta dễ mắc bệnh phù.

    Vitamin B2 (Riboflavin):hoà tan trong nước,ổn định trong môi trường axit,chịu nhiệt,phân huỷ nhanh trong môi trường kiềm,nhạy cảm với ánh sáng,Khối lượng phân tử là 376,4 đv.C

    Có mặt trong các tế bào ở cả thực vật lẫn động vật,có nhiều trong nấm men,mầm lúa,nấm mốc và vi sinh vật yếm khí.Nó là coenzym của các enzym thuộc hệ oxi hoá khử khác nhau,nhất là flavin oxidaza.Thiếu vitamin B2 thì chuột thí nghiệm bị rụng lông,bị đục nhân mắt,viêm mắt và chết.

    Vitamin B6 :(Piridoxan) hoà tan trong nước,chịu nhiệt,nhạy cảm với ánh sáng,khối lượng phân tử là 169,0 đv.C.

    Có mặt trong hạt và mầm hạt hoà thảo và trong nấm men,là của enzym decacboxilaza của một số axit amin,tham gia trong thành phần của enzym transaminaza.

    Vitamin B5 (PP,niaxin,axit nocotinic):hoà tan trong nước,chịu nhiệt,khối lượng phân tử là 123,1 đv.C.

    Có mặt trong các hạt alơron dự trữ của hạt,cũng có trong mầm lúa,hạt lạc.Tham gia vào thành phần của ADN,các dẫn xuất của nó đều là những chất chuyển hoá năng lượng quan trọng.Tham gia hoạt hoá sự trao đổi photpho,gluxit,lipit.

    Vitamin B3 (axit pantotenic):hoà tan trong nước,chịu nhiệt,phân huỷ trong môi trường kiềm và axit,khối lượng phân tử là 219,2 đv.C.

    Có mặt trong nấm men,trong hạt alơron của hạt lúa,tham gia vào quá trình hô hấp,có trong thành phần của axetylaza.

    Vitamin H (biotin): Hoà tan trong nước,chịu nhiệt,khối lượng phân tử là 244,3 đv.C.Có mặt trong cám,cà rốt.Là coezym của các enzym như hexokinaza,cacboxilaza và nhiều enzym khác tham gia trao đổi gluxit,lipit và protein.Chúng có vai trò điều chỉnh sự sinh trưởng của sinh vật.

    Vitamin Bc (axit folic):hoà tan trong nước,dễ bị phân huỷ khi đun nóng.Dưới tác dụng của chất oxi hoá và ánh sáng thì cũng dễ bị phân huỷ.Khối lượng phân tử là 427,4 đv.C.

    Có mặt trong nhiều loại nấm,rau dền.Tham gia tổng hợp sinh học timin.

    Vitamin B12 (xiancobanamin):công thức hoá học cấu tạo rất phức tạp.Hoà tan trong nước,chịu nhiệt,bị phân huỷ dưới ánh sáng.Chứa nhân pocphirin,coban,photpho và nhóm xianamit.Khối lượng phân tử 1355,4 đv.C.Tham gia sự hình thành hồng cầu,

    Inozit:tan trong nước,khối lượng phân tử 180,0 đv.C.Chứa ở trong hạt,cây mầm và nấm sen.Rất cần cho sự sinh trưởng của mô tách rời trong quá trình nuôi cấy mô.

    +Vitamin P (axit p-aminobenzoi)

    Ít tan trong nước,chịu nhiệt,khối lượng phân tử 123,0 đv.C.Có mặt trong mô thực vật và động vật.Cần thiết cho sinh trưởng của mô sinh vật.
Andromeda
T6, 09/12/2005 - 17:12
  • a2.Các vitamin tan trong mỡ:

    +Vitamin A (axeroftol):tan trong mỡ,nhạy cảm với sự oxi hoá,chịu nhiệt khá,khối lượng phân tử là 286,5 đv.C.Vitamin A chứa trong cà rốt,cà chua,gấc,trứng gà và trong các loại tảo.Có vai trò bảo vệ mô biểu bì,giữ cho da bình thường,nhất là tham gia bảo vệ võng mô của mắt.

    +Vitamin D:Nhóm này có vitamin D2,D3,D4.
    Tan trong mỡ,chịu nhiệt.Vitamin D được hình thành trong cơ thể từ chất ecgoxterol khi bị chiếu xạ.Khối lượng phân tử D3 là 384,7 đv.C, D2 là 396,7 đv.C, D4 là 398,7 đv.C.Chúng có trong nấm,cây xanh,có vai trò xúc tiến sự trao đổi canxi trong xương động vật.

    +Vitamin E (tocoferol): Hoà tan trong mỡ,chịu nhiệt.Nhạy cảm với sự oxi hoá và ánh sáng.Khối lượng phân tử là 470,7 đv.C.

    Chiếm 10-40 mg% chất khô của phần xanh của cây,80mg% trong lục lạp và hạt.Cũng có mặt trong rau diếp,dầu ôliu..Tham gia điều hoà sự tổng hợp và phân huỷ của carotenoit.

    Vitamin K:Có nhiều loại khác nhau (K1,K2,K3).
    Hoà tan trong mỡ,nhạy cảm với ánh sáng.Khối lượng thay đổi tuỳ nhiều loại.Trong lục lạp,tỉ lệ giữa chúng với diệp lục là 1/200.Có trong nấm men,cà chua.Tham gia quá trình quang hợp,tạo máu ở người và động vật.
Andromeda
T4, 18/01/2006 - 17:53
  • d.Liên kết hoá học trong các hợp chất sống:

    Trong chất sống,các nguyên tố hoá học tồn tại trong các hợp chất hoá học.Trong sinh học,sự hình thành các hợp chất hoá học từ các đơn chất thông qua các kiểu liên kết hoá học.Các hợp chất có nguồn gốc sinh vật có nhiều loại liên kết hoá học khác nhau,nhưng trong đó quan trọng hơn cả là loại liên kết tĩnh điện(hay liên kết ion),liên kết hiđro hay liên kết cộng hoá trị.Liên kết hiđro và liên kết tĩnh điện có lực liên kết yếu nên dễ đứt.Còn liên kết cộng hoá trị có lực liên kết bền hơn hai liên kết trên.Muốn phá vỡ liên kết cộng hoá trị trong các phản ứng hoá học phải dùng năng lượng lớn.Trong sinh vật,các enzym tham gia các phản ứng hình thành và phá vỡ các liên kết đó nhờ cơ chế xúc tác của enzym mà không cần đến năng lượng lớn.

    Liên kết tĩnh điện tạo nên nhờ sức hút lẫn nhau của 2 phân tử tích điện.
    Ví dụ: Na+ + Cl--->NaCl

    Liên kết hiđro hình thành giữa nguyên tử hiđro linh động ở chất này với một nguyên tử có độ âm điện lớn ở một phân tử khác(thường là nguyên tố oxi)

    Liên kết cộng hoá trị là liên kết được hình thành do sự góp chung electron của các nguyên tử của các nguyên tố (thường là phi kim với nhau hoặc hiđro với phi kim).Liên kết cộng hoá trị quan trọng hơn cả là liên kết anhiđrit.Liên kết kiểu này là sự liên kết hai phân tử đồng thời tách một phân tử nước.Ví dụ:nhóm -OH của phân tử này và một nguyên tử H của phân tử kia.Cũng thường xảy ra sự thế nhóm -OH trong phân tử nhờ nhóm photphat cùng với việc tách nhóm photphat và nguyên tử hiđro khỏi phân tử kia.Lúc đó nhóm photphat vô cơ được giải phóng và liên kết anhiđric được tạo ra.

    -Liên kết anhiđrit giữa các gluxit là liên kết glucozit.
    -Liên kết anhiđrit giữa các axit amin là liên kết peptit.
    -Liên kết anhiđrit giữa các chất béo là liên kết este.

    Có nhiều loại liên kết este.Trong số đó quan trọng hơn cả là liên kết estephotphat:xảy ra giữa nhóm -OH của gluxit và H từ axit photphoric.Ngoài ra còn có liên kết thioeste:xảy ra giữa nhóm OH của nhóm -COOH với H của nhóm -SH.

    Trong axit nuclêic,liên kết glucozit là liên kết được hình thành khi đường phản ứng với bazơ của purin hay của pirimidin;liên kết este photphat là liên kết giữa đường và photpho.Coenzym-A hình thành nên liên kết thioeste với hàng loạt các chất khác.Trong axetyl coenzym-A có liên kết thioeste giữa axetyl với coenzym-A



Andromeda
T4, 18/01/2006 - 17:54
  • Tiếp theo chương 1:

    e.Tính chất lý học của các thành phần cấu tạo tế bào.

    Như chúng ta đã thấy các chất cấu tạo nên tế bào có bản chất đặc trưng hoá học,có số lượng riêng biệt.Bên cạnh hai tính chất đó,chúng cũng còn có tính chất vật lý riêng biệt nữa.

    Tính chất vật lý phổ biến của bất kỳ chất nào là khi hỗn hợp với nước thì tạo ra một hệ;có thể đó là một hệ dung dịch thật,một hệ huyền phù,hay hệ dung dịch keo.Quy định cơ bản để coi nó ở dạng nào trong ba dạng trên phụ thuộc vào kích thước của hạt phân tán.

    Hệ là dung dịch thật khi các hạt hay các ion phân tán đều đặn trong chất lỏng hoà tan (dung môi).Kích thước cảu hạt nhỉ dưới 0,0001 micromet.Dung dịch thật trong suốt,điểm sôi cao,điểm đông đặc thấp so với nước sạch.Nhiệt độ điểm sôi tăng lên cũng như nhiệt độ đông đặc hạ thấp xuống tỉ lệ thuận với nồng độ phân tử có trong dung dịch.Các bazơ,axit,muối và nhiều chất không điện li như đường...khi tan trong nước đều tạo nên dung dịch thật.

    Hệ là dạng huyền phù khi các hạt phân tán có kích thước lớn hơn 0,1 micrômet.Đặc biệt nếu để yên,các hạt sẽ lắng xuống.Dạng huyền phù không trong suốt.Nhiệt độ điểm sôi và điểm đông đặc cũng nhu nước sạch.

    Hệ là dung dịch keo khi các hạt không nhỏ như các hạt trong dung dịch thật,nhưng cũng không lớn như thể huyền phù.Kích thước các hạt từ 0,0001-0,1 micrômet>Có các loại khác nhau như keo thịt đông,keo hồ,keo sương mù...

    Trong dung dịch keo các hạt thường tích điện cùng dấu nên có khuynh hướng đẩy nhau làm cho các phân tử luôn giữ được trạng thái phân tán.

    Dung dịch keo có khả năng đặc trưng nhất là biến đổi từ trạng thái keo lỏng (sol) sang trạng thái keo đặc (gel).Sự biến đổi này phụ thuộc vào nhiệt độ,pH,sự có mặt các ion,hay do tác động cơ học.

    Hai trạng thái trên nếu biến đổi thuận nghịch tức là từ sol sang gel rồi ngược lại từ gel chuyển sang sol thì các loại keo đó gọi là keo biến đổi thuận nghịch.Loại keo chỉ biến đổi từ sol sang gel là keo không biến đổi thuận nghịch.Keo biến đổi thuận nghịch cũng có thể trở thành keo không thuận nghịch khi nhiệt độ,pH,v.v..của chúng thay đổi.

    Trạng thái keo của một chất sống có tính vật lý quan trọng trong việc làm cho bề mặt tiếp xúc của hạt nhân phân tán trong keo tăng lên rất nhanh.Đó là nhân tố quan trọng làm tăng tốc độ các phản ứng sinh hoá học.Chất sống tồn tại trong cơ thể,trong tế bào ở trạng thái keo.Và keo sinh chất là keo thuận nghịch trong điều kiện sống bình thường.